Kết luận thanh tra về việc chấp hành các quy định của pháp luật đối với các trạm khí tượng thủy văn chuyên dùng trên địa bàn tỉnh Gia Lai

10:57:00  21/03/2018

Thực hiện Quyết định số 2437/QĐ-BTNMT ngày 09 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật khí tượng thủy văn đối với các trạm khí tượng thủy văn chuyên dùng trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

 

Xét Báo cáo kết quả thanh tra ngày 20 tháng 12 năm 2017 của Trưởng đoàn thanh tra, ý kiến giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra, Bộ Tài nguyên và Môi trường kết luận như sau:

Gia Lai là tỉnh miền núi phía Bắc vùng Tây Nguyên có độ cao trung bình 700 - 800m so với mực nước biến; phía Đông giáp với các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên; phía Tây giáp tỉnh Ratanakiri thuộc Campuchia, có đường biên giới chạy dài khoảng 90 km; phía Nam giáp tỉnh Đắk Lắk và phía Bắc giáp tỉnh Kon Tum. Tỉnh Gia Lai bao gồm 17 đơn vị hành chính cấp huyện thị, dân số toàn tỉnh Gia Lai có khoảng 1.322.000 người, gồm 38 dân tộc cùng sinh sống.

Gia Lai thuộc vùng khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa, dồi dào về độ ẩm, có lượng mưa lớn, không có bão và sương muối. Khí hậu ở đây được chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thưòng bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm là 22 - 25°c. Vùng Đông Trường Sơn có lượng mưa trung bình năm từ 1.200 - 1.750mm, Tây Trường Sơn có lưọng mưa trung bình năm từ 2.200 - 2.500mm. Khí hậu và thổ nhưỡng Gia Lai rất thích hợp cho việc phát triển nhiều loại cây công nghiệp ngắn và dài ngày, chăn nuôi và kinh doanh tổng hợp nông lâm nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao.

 

Qua công tác thanh tra cho thấy các đơn vị, tổ chức có công trình khí tượng thủy văn chuyên dùng đã thực hiện nghiêm túc việc quan trắc khí tượng thủy văn để phục vụ việc điều hành bay, điều hành phát điện, phục vụ thủy lợi, công tác an toàn đập và phòng chống thiên tai theo quy định của pháp luật.

Các đơn vị, tổ chức đã phối hợp và làm các thủ tục theo quy định để được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy phép khai thác sử dụng nước mặt, sồ chủ nguồn chất thải nguy hại; phê duyệt quy trình vận hành hồ chứa, phương án phòng chống lụt bão, báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định.

Tồn tại

Có 03/04 (chiếm 75%) trạm khí tượng thủy văn chuyên dùng không có quyết định thành lập trạm theo quy định tại Khoản 2, Điều 14 Luật Khí tượng thủy văn.

Có 03/04 (chiếm 75%) đơn vị, tổ chức có công trình khí tượng thủy văn chuyên dùng không thực hiện hiệu chuẩn dụng cụ, phương tiện đo chuyên ngành khí tượng thủy văn theo quy định tại Khoản 3, Điều 3, Quy định kỹ thuật đối với trạm khí tượng thủy văn tự động ban hành kèm theo Thông tư số 70/2015/TT-BTNMT ngày 23 tháng 12 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Đối với các trạm lắp máy đo tự động: Có 01/02 (chiếm 50%) đơn vị, tổ chức lắp đặt máy đo tự động để đo các yếu tố khí tượng thủy văn nhưng chưa tuân thủ theo quy định tại mục 1.2, phần 2 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quan trắc thủy văn, mã số QCVN 47:2012/BTNMT ban hành theo Thông tư so 26/2012/TT-BTNMT ngày 28 tháng 12 năm 2012.

Có 02/04 (chiếm 50%) đơn vị, tổ chức có công trình đo đạc về khí tượng thủy văn có thang độ đo, thước đo chưa đúng với quy định tại mục 2.1, phần 2 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quan trắc thủy văn, mã số QCVN 47:2012/BTNMT ban hành theo Thông tư số 26/2012/TT-BTNMT ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Có 01/03 (chiếm 33%) tổ chức, đơn vị chưa thực hiện cung cấp các tư liệu về khí tượng thủy văn cho cơ quan có thẩm quyền theo Điều 35, Quyết định số 46/2014/QĐ-TTg ngày 15 tháng 8 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định về dự báo, cảnh báo và truyền tin thiên tai.

Có 02/04 (chiếm 50%) tổ chức, đơn vị không có cán bộ có chuyên môn về khí tượng thủy văn thực hiện quan trắc đo đạc về khí tượng thủy văn.

Có 01/04 (chiếm 25%) tổ chức, đơn vị chưa lắp đặt các thiết bị đo mưa và tổ chức đo mưa theo quy định tại Điều 4, Nghị định số 38/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khí tượng thủy văn.

 

Qua thanh tra, Bộ Tài nguyên và Môi trường kiến nghị:

Đối với các đơn vị, tổ chức có trạm khí tượng thủy văn chuyên dùng: Ban hành quyết định thành lập trạm khí tượng chuyên dùng theo Khoản 2, Điều 14 Luật Khí tượng thủy văn. Đối với công trình, thiết bị máy đo tự động, dụng cụ đo thủ công đế thực hiện quan trắc các yếu tố khí tượng thuỷ văn phải đúng quy chuẩn quốc gia, được cơ quan có thẩm quyền kiểm định và hiệu chuẩn theo quy định.

Thực hiện nghiêm túc quy chế phối hợp công tác dự báo vào mùa mưa lũ theo quy định tại Khoản 3 Điều 12 Thông tư số 34/2010/TT-BCT ngày 07 tháng 10 năm 2010 của Bộ Công thương quy định về quản lý an toàn đập của công trình thủy lợi, thủy điện. Thực hiện việc cung cấp tư liệu về khí tượng thủy văn cho Đài Khí tượng thủy văn khu vực Tây Nguyên để phục vụ công tác điều tra cơ bản, dự báo thời tiêt khí hậu và phòng chống thiên tai theo quy định.

Khắc phục những tồn tại nêu trong kết luận này và hoàn thiện các quy định của pháp luật về tài nguyên môi trường có liên quan, báo cáo kết quả về Bộ Tài nguyên và Môi trường (qua Thanh tra Bộ, địa chỉ số 10 Tôn Thất Thuyết, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội) trước ngày 30 tháng 6 năm 2018.

 

Đi với Tổng cục Khí tượng thủy văn: Lập danh mục các loại phương tiện, máy mớc chuyên dùng ngành khí tượng thủy văn phải được kiểm định; danh mục các loại phương tiện, dụng cụ đo cần được hiệu chuẩn trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định theo Điều 18 Luật Khí tượng thủy văn.

Chỉ đạo các đơn vị chức năng có kế hoạch, chuẩn bị trang thiết bị, phương tiện để thu nhận thông tin, dữ liệu quan trắc khí tượng thủy văn từ các trạm khí tượng thủy văn chuyên dùng theo Điều 5 Nghị định số 38/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khí tượng thủy văn.

Tổng cục Khí tượng thủy văn có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện các nội dung trên về Bộ Tài nguyên và Môi trựờng (qua Thanh tra Bộ) trước ngày 30 tháng 6 năm 2018.

Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai, tăng cường công tác quản lý nhà nước về khí tượng thủy văn theo Điều 53 Luật Khí tượng thủy văn.